
Với tôi, món cháo lươn Nghệ An ngon đích đáng lại nằm ở một quán chuyên bán các món... dê, số 420 Lê Văn Sỹ, quận Tân Bình. Tuy chỉ là món phụ ở quán lẩu dê này, nhưng đa phần thực khách khi đã ngà ngà say đều gọi món cháo lươn cuối cùng để "vực dậy". Cháo dẻo nấu cùng lươn mềm có một hương vị đồng nội thật đằm thắm, như muốn làm ấm lòng kẻ tha hương lúc say mềm. Để được ăn nhiều món lươn Nghệ An hơn, bạn nên ghé những quán chuyên về lươn ở gần khu sân bay (quận Tân Bình) với đủ món cháo, miến, lẩu lươn, lươn om chuối đậu... Các món cháo lươn, miến lươn thoạt nhìn không hấp dẫn vì bao nhiêu thứ ngon nằm chìm hết xuống dưới. Chỉ cần chao cái muỗng là bao vẻ ngon lành lại hiện ra. 


Với nhiều người Quảng Nam ở Sài Gòn, họ thà nấu mì Quảng tại nhà chứ không thể chịu được kiểu mì Quảng bán ngoài tiệm. Trong tản văn "Người Quảng ăn mì Quảng", nhà văn Nguyễn Nhật Ánh lý giải hóm hỉnh, rằng sở dĩ nhiều người Quảng buồn bực với món mì ở Sài Gòn đã thay đổi theo thời gian và không gian là bởi: “có thể có người Bắc suốt đời chưa từng nấu phở, có thể có người Nam từ bé đến già chưa từng nấu hủ tiếu, nhưng chắc chắn không một người Quảng Nam nào chưa từng nấu mì Quảng tại gia”. Một bạn đọc cũng chia sẻ với Sài Gòn Ẩm Thực về sự cầu kỳ và tinh tế của món mì này trong một gia đình Quảng Nam từ những ngày xa xưa: "Ba mẹ tôi chọn đám ruộng trồng lúa Ba trăng (hoặc lúa IR 75) và đặc biệt không phun thuốc sâu để dành làm mì Quảng. Với loại gạo này khi tráng, cọng mì mới đạt được độ mềm mỏng, dẻo, dai và thơm. Tiếp theo dầu bôi lá mì phải dùng loại dầu (đậu) phụng mới ép là tốt nhất, không thì dầu phụng khử. Khi ăn bạn sẽ cảm nhận được mùi vị thơm ngon đặc trưng của nó". Nước mắm ăn với mì Quảng phải là nước mắm nhỉ. Ớt ăn món này ngon nhất có lẽ là ớt xanh Điện Bàn, cay vừa phải mà lại thơm. Riêng về rau sống ăn kèm thì không thể thiếu nõn chuối chát non (chuối hạt, chuối sứ) và cải con. 
Ở Sài Gòn, bánh canh đơn thuần là tên gọi đi với món ăn kèm, như banh cánh cua, bánh canh ghẹ, bánh canh giò heo, bánh canh cá... Tuy nhiên, món này ở Quảng Trị lại được gọi với cái tên khá thú vị là "cháo bột", mà khi nghe qua chắc nhiều người Sài Gòn cũng ngẩn ngơ. Điều thú vị ở món "cháo bột" này (hay còn gọi là "cháo bánh canh") là khi thưởng thức thực khách vừa gắp bằng đũa, vừa ăn bằng muỗng. Người Quảng Trị đôi khi còn gọi món này là "cháo vạt giường" nghe rất lạ tai. Bột gạo để làm món bánh canh này cũng rất công phu: gao được ngâm thật kỹ rồi mới đem xay thành bột, rồi nhào cho thật kỹ, nhào càng lâu bột càng "chín" sẽ khiến cho cọng bánh canh ngon hơn bội phần. Sau đó mới cán mỏng bột rồi thái thành những sợi nhỏ như thanh tre của vạt giường (cũng là tên của món này). Khi khách gọi thì mới luộc những thanh "vạt giường" này trong nước sôi cho đến khi chính thành từng sợi dài và không nhão là vừa ngon. 
Quán bánh đập, bánh bèo xứ Quảng của bà Sáu gần chợ Bà Hoa (quận Tân Bình) tuy nhỏ xíu nhưng hấp dẫn đến mức người sành món Quảng phải lặn lội tìm ăn. Đến những con phố quanh chợ bà Hoa, nhiều người cứ ngỡ đang về một góc nào đó ở miền Trung bởi có rất nhiều bảng hiệu mì Quảng, cao lầu, bánh đập, bánh bèo... san sát. Quán sang có, quán bình dân có, thậm chỉ một góc vỉa hè ngã tư cũng tìm thấy một biển hiệu nho nhỏ giới thiệu những món ăn đặc trưng xứ Quảng. Người yêu xứ Quảng yêu thích quán nhỏ của bà Sáu, năm nay 60 tuổi, mở quán được 6 năm. Quán chỉ kê đủ ba chiếc bàn, bài trí đơn giản. Ở đây, người ta tìm thấy một cái gì đó rất gần gũi với quê nhà, từ giọng Quảng đặc sệt của bà Sáu, cho đến linh hồn của món ăn không bị pha tạp cho dù bán ở mảnh đất Sài Gòn. 



Gọi là "rất.. Quảng" vì bánh bèo Quảng Nam khác biệt rất nhiều nếu so sánh với bánh bèo Huế, bánh bèo bì hay bánh bèo kiểu miền Tây. Có người còn ví von nếu bánh bèo Huế thanh tao, lịch thiệp bao nhiêu thì bánh bèo Quảng Nam lại thô kệch, chân chất như chính con người nơi đây vậy. Bánh bèo Quảng Nam để ăn no, không như bánh bèo Huế hay bánh bèo miền Tây chủ yếu là ăn chơi, ăn xế... Chén bánh bèo đặc trưng to như chén ăn cơm, bột cũng dày hơn rất nhiều so với các phiên bản bánh bèo khác. Tương tự như mì Quảng, phần ăn kèm của bánh bèo cũng gọi là "nhưn" với thành phần chính được làm từ tôm, thịt nạc, nấm mèo… tạo nên một loại hỗn hợp đặc quánh có màu cam tươi rất bắt mắt. Theo đúng cách của người Quảng thì trước khi ăn người ta thoa đều lên mặt bánh một lớp dầu phộng phi hành béo ngậy, sau đó đổ nhân bánh vào và cuối cùng là rắc một ít đậu phụng rang giã nhỏ. Nước mắm ăn kèm là loại nguyên chất rất mặn, ăn kèm với ớt cay đến xé lưỡi... tất cả hòa quyện với phần nhưn đăc sệt tạo nên một hương vị thật tinh tế. Cách ăn cũng rất khác biệt: vì bánh to và dày nên khi ăn phải dùng muỗng sắn ra làm nhiều phần rồi thưởng thức từ từ chứ không ăn nguyên cái một lúc được. 
Tự nhận món ăn mình phục vụ là "nguyên bản" luôn là một chủ đề gây nhiều tranh cãi, đặc biệt là với dòng hủ tiếu tương đối phổ biến trong đời sống ẩm thực Sài Gòn như hủ tiếu Nam Vang. Tuy nhiên những dữ kiện của phiên bản hủ tiếu Nam Vang - Ty Lum đã gợi mở rất nhiều điều lý thú về món ngon này. Hủ tiếu Nam Vang khi du nhập vào Việt Nam đã bị lai tạp ít nhiều. Nếu như tô hủ tiếu nguyên bản chỉ có thịt heo bằm và xắt miếng, ăn kèm với xà lách và giá sống (cùng một chút đường) thì khi phiêu bạt theo làn sóng người Tiều gốc Việt về Sài Gòn, hủ tiếu Nam Vang đã thay đổi khá nhiều về hình thức. Nếu như phần nhân bổ sung thêm gan, tim, tôm, trứng cút... thì phần rau ăn kèm cũng phong phú hơn với rau cần, tần ô và hẹ. Tuy khác biệt là vậy nhưng chung quy hủ tiếu Nam Vang khi du nhập vào Sài Gòn có phần ngon hơn cũng như phù hợp với khẩu vị địa phương, nên có lẽ cũng không ai thắc mắc về những thay đổi này. Theo như đầu bếp Ty Lum thì món hủ tiếu đầu tiên ra đời vào khoảng năm 1920 tại Bết-Chan, một thị trấn nhỏ cách thủ đô Nam Vang 19km do một gia đình người Tiều từ Trung Hoa sang lập nghiệp sáng chế ra. Rồi sau đó chuyển về WEN - Thành vua (một liên doanh Pháp - Hoa) và mở thêm một quán mới đặt tên là La Pagode tại thủ đô Phnompenh. Ty Lum vốn là con của một gia đình Việt kiều ở Nam Vang (cách gọi khác của thủ đô Phnompenh). Sau khi học hết trung học, ông theo học nấu ăn tại một trường lớn chuyên về ngành này và may mắn gặp được một ông thầy người Hoa chỉ cho bài "hủ tiếu". Khi ra trường Ty Lum đứng bếp cho nhà hàng La Pagode trứ danh được 2 năm thì được thu dụng vào Hoàng cung, và trong đó món điểm tâm hủ tiếu Nam Vang được chính Ty Lum phục vụ.